Nhân tài sợ cô độc

    Phạm Gia Hiền

    Nhà báo

    website Hà Nội, Việt Nam
    Nhân tài sợ cô độc

    Câu chuyện Đà Nẵng mới đây khởi kiện 7 người trong Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, vì không trở lại làm việc cho địa phương, đã nhanh chóng ngã ngũ.

    Tôi cho rằng, một hợp đồng dân sự, với vốn đầu tư lên đến hàng tỷ đồng, bên không thực hiện đúng hoặc phá hợp đồng giữa chừng, đương nhiên phải chịu phạt đền bù theo thỏa thuận đã ký. Mạnh tay đầu tư mà kết quả vẫn không như ý, thành phố có cơ chế được cho là đi đầu của miền Trung, buồn bã tuyên bố sẽ điều chỉnh lại chính sách đào tạo nhân tài.

    Đằng sau câu chuyện ở Đà Nẵng là một vấn đề muôn thủa về nhân tài và môi trường sử dụng.

    Trong những năm qua, khuynh hướng xin học bổng dạng vừa học vừa làm để đi du học trở nên phổ biến. Sinh viên Việt Nam thông minh, cần cù chịu khó, là nguồn nhân lực được nhiều quốc gia đánh giá là tiềm năng. Cấp học bổng, tạo điều kiện vừa học vừa làm, và tự tin vào khả năng giữ được nhân lực sau đào tạo, vô số trường đại học trên thế giới đang mở rộng cửa cho sinh viên Việt Nam. 5% sinh viên của chúng ta đang đi du học và 90% trong số đó là tự túc. Đó là con số đáng suy nghĩ, đó là chảy máu chất xám hay tiềm ẩn nguy cơ chảy máu chất xám?

    Thực ra, số tiền mà Đà Nẵng đầu tư cho các nhân tài là bước cao hơn của chính sách khuyến học bậc cao, được áp dụng theo chỉ đạo của Thủ tướng từ năm 2007. Chương trình tín dụng 157 cho sinh viên trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học vay tín dụng với lãi suất ưu đãi. Nhưng sau khi ra trường với một món nợ không nhỏ, họ đối mặt với tương lai không mấy sáng sủa. Thống kê cho thấy, ba tháng đầu năm 2015, số lao động trình độ đại học, sau đại học bị thất nghiệp lên tới 178.000 người; số lao động tốt nghiệp cao đẳng thất nghiệp là hơn 100.000 người. Trong tình hình đó, có vẻ như cuộc vay vốn lớn đầu tư cho việc học là một bài toán phiêu lưu. Với những người trong đề án đào tạo nhân tài của Đà Nẵng, theo đúng hợp đồng, thì để “hoàn vốn cho chủ đầu tư”, họ sẽ phải quay về địa phương làm việc ít nhất là 7 năm. Đó cũng là một tương lai khá buồn tẻ, và những người không quyết tâm, có thể sẽ dễ dàng bỏ cuộc.

    Tôi quen một nhà báo nữ, đã 27 tuổi, nhưng vừa xin được học bổng đi du học Anh quốc. Chỉ sau 2 tháng, cô đã đặt mục tiêu ở lại làm việc sau khi học xong chứ không về nước. Không đề cập đến chênh lệch thu nhập quá lớn giữa Việt Nam và Anh quốc, cô nhấn mạnh rằng, những gì cô học ở đây (ngành luật), khó mà áp dụng ở quê nhà. Thực tế, có rất nhiều du học sinh sau khi về nước đã tìm cách quay lại quốc gia mình du học, bởi không thể hòa nhập với môi trường làm việc.

    Khi mà ở một số nơi, một suất giáo viên mầm non vào biên chế còn được đặt giá đến cả trăm triệu đồng, khi khái niệm “chạy việc” trở thành bài toán đương nhiên đặt ra cho các sinh viên mới ra trường, thì tôi không tin chúng ta có một môi trường thu hút nhân tài.

    Nhân tài không quay về để trở nên nổi bật và cô độc. Nhân tài cũng khát khao một mặt bằng công việc trình độ đồng đều, tôn trọng, với những thách thức nằm trong bản chất công việc, chứ không phải những cuộc chạy đua quyền chức.