Công bố quốc tế của VN 2006-2015

    Nguyễn Tuấn

    Giáo sư khoa Y trường ĐH New South Wales (UNSW), Australia

    website Sydney, Australia
    Công bố quốc tế của VN 2006-2015

    Hôm nọ, có anh bạn hỏi tình hình công bố quốc tế của VN trong 5 năm qua ra sao, nên tôi có dịp quay lại chủ đề này. Tôi lại đếm số công trình được công bố trong 10 năm qua (2006 - 2015). Nói chung, vị trí của VN trong khu vực ASEAN không thay đổi mấy: thấp hơn Thái Lan, Mã Lai, và Singapore.

    Tính từ 2006 đến 2015, VN công bố được 15560 bài báo trên các tập san thuộc danh mục ISI. Con số này bằng khoảng 28% của Thái Lan (54478), 24% của Mã Lai (65111), và 16% của Singapore (96791). Biểu đồ dưới đây cho thấy xu hướng tăng về công bố quốc tế của các nước trong vùng ASEAN. Tính một cách đơn giản, VN có tỉ lệ tăng khoảng 18% mỗi năm, và tỉ lệ này thấp hơn Mã Lai (23%), nhưng cao hơn Thái Lan (9%). Riêng Singapore thì hình như đã ở mức plateau, chỉ tăng khoảng 8% mỗi năm. Trong số này, Mã Lai là nước có sự tăng trưởng ấn tượng nhất, đã vượt qua Thái Lan và sắp bằng Singapore.

    Dù VN có tốc độ tăng trưởng rất tốt, nhưng vì xuất phát từ một cái "baseline" thấp, nên cuối cùng thì tổng số năng suất vẫn thấp hơn các nước vừa kể. Tôi thử tính thì phải 5 năm nữa, số công bố quốc tế của VN mới bằng Thái Lan của năm 2015; con số này cho Mã Lai là 7 năm, và Singapore là 8 năm.

    Phân tích theo lĩnh vực khoa học (Bảng số liệu) thì thấy có vài sự khác biệt giữa các nước. Khoảng 1/3 công bố quốc tế của VN là y sinh học, tức tương đương với Mã Lai (32%) nhưng thấp hơn Singapore một chút (37%). Riêng các bài báo lĩnh vực y sinh của Thái Lan chiếm 61% tổng số bài báo trên các tập san ISI! Trong 10 năm, Thái Lan công bố hơn 33,000 bài báo về y sinh học, cao gấp 6.5 lần so với VN, 62% cao hơn Mã Lai, nhưng 8% thấp hơn Singapore. Có thể nói rằng nghiên cứu y sinh của Thái Lan thuộc vào hàng mạnh nhất nhì trong vùng.

    Khoảng 13% số công bố quốc tế của VN là lĩnh vực toán học. Tính từ 2006 đến 2015, VN công bố được gần 2000 bài báo về toán học, cao hơn Thái Lan khoảng 29% và Mã Lai 13%, nhưng còn thấp hơn Singapore khá xa (chỉ bằng 56%).

    Vật lí cũng là lĩnh vực nghiên cứu có nhiều công bố quốc tế từ VN, chiếm tỉ trọng khoảng 14% (2166 bài). Nhưng về số lượng thì công bố quốc tế về vật lí của VN vẫn còn thấp hơn các nước trong vùng như Thái Lan (3525 bài), Mã Lai (5211 bài), và Singapore (14793 bài).

    Nghiên cứu về kĩ thuật và khoa học vật liệu cũng có vẻ active. Trong 10 năm qua, công bố quốc tế về kĩ thuật chiếm tỉ trọng 9%, khoa học vật liệu là 8%. Có thể nói rằng hai lĩnh vực này "định hình" sự tiên tiến của công nghệ, và nhìn như thế thì VN vẫn còn thấp hơn so với Mã Lai và Singapore, hai nước đã đạt được tỉ trọng gần 20% về lĩnh vực kĩ thuật, và 11-12% cho khoa học vật liệu.

    Số bài báo khoa học và tỉ trọng (%, trong ngoặc) trong thời gian 2006-2015 của 4 nước Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, và Singapore. Ví dụ: trong thời gian 10 năm trên, VN công bố được 15560 bài báo khoa học, trong số này có 5164 bài về y sinh học, chiếm 33.2% tổng số.

    Nói chung, đóng góp của các lĩnh vực như kinh tế - tài chính - quản trị (gọi chung là Business & Econ) và khoa học xã hội cho tổng số năng suất khoa học của VN không đáng kể, chỉ chiếm tỉ trọng khoảng 2.4%. Hai nước Thái Lan và Mã Lai cũng chẳng khá hơn, với tỉ trọng 2-3%. Riêng Singapore là nước đã phát triển, nên tỉ trọng công bố quốc tế của các lĩnh vực này chiếm hơn 5% tổng số.

    Tóm lại, tình hình công bố quốc tế của khoa học VN đã đạt được một tốc độ tăng trưởng rất cao (18%/năm), nhưng vì xuất phát từ điểm khởi đầu thấp, nên vẫn còn thấp hơn so với Thái Lan, Mã Lai, và Singapore. So với các nước này, VN đi sau khoảng 5-8 năm, nhưng hi vọng rằng khoảng cách sẽ rút ngắn lại trong tương lai. Về cơ cấu khoa học phản ảnh qua lĩnh vực công bố quốc tế, thì VN và Thái Lan vẫn là nước đang phát triển như thể hiện qua số bài báo trong lĩnh vực kĩ thuật và khoa học vật liệu, và khoa học xã hội. Ở đây, tôi chưa nói về chất lượng, nhưng các chỉ số như trích dẫn trung bình và RCI thì VN thấp nhất so với các nước trong vùng.