Kinh cầu hồn cho một dòng sông (The Mekong, P1)

    Đoàn Xuân Tuấn

    Bob Doan

    website Portsmouth, UK
    Kinh cầu hồn cho một dòng sông (The Mekong, P1)

    Dịch từ Tiểu luận về sông Mekong, The Economist

    Lời người dịch:

    Xin giới thiệu đến mọi người bản tiểu luận của tờ The Economist, một tòa báo rất uy tín của Anh. Bản “Kinh cầu hồn cho một giòng sông” là phần thứ nhất trong 5 phần của bài tiểu luận về sông Mê Kông. Phần này nói khái quát về nơi giòng sông được sinh ra cho đến đoạn cuối cùng mà người Việt chúng ta gọi là sông Cửu Long trước khi đổ ra Biển Đông.

    Tác giả cũng nhắc sơ đến những hiểm họa sắp đến mà giòng sông vĩ đại này và biết bao con người cũng như nền sinh thái dọc suốt chiều dài của nó sẽ phải gánh chịu bởi lòng tham ngắn hạn và sự ích kỷ của giới cầm quyền các quốc gia, đặc biệt là những nước ở thượng nguồn.

    Thú thật với các bạn, tôi thường “nổi da gà” khi đọc những bài viết như thế này: những người ngoại quốc xa xôi, lạ lẫm, sao họ lại có thể viết lên những dòng văn tha thiết như thế đối với một con sông ở xa họ hàng vạn dặm? Chỉ có tình yêu nồng nhiệt đối với thiên nhiên, với quả đất chúng ta đang sống và cái tầm nhìn xa về tương lai mới làm họ thao thức được như vậy.

    Còn chúng ta, những người Việt Nam, những người trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi sự tàn phá môi trường sống nghiêm trọng này lại hầu như không mấy quan tâm (?!).

    Nguyên bản tiếng Anh diễn tả những nỗi tiếc thương, lo âu của tác giả. Rất tiếc là tôi không đủ khả năng chuyển tải được toàn bộ cái tinh thần của bài viết sang tiếng Việt để chia sẻ với các bạn ở quê hương được.

    Dù vậy, cũng xin tặng cái cố gắng nhỏ (cái “công” dịch) này đặc biệt cho các bạn quê ở miền Tây Nam Bộ, nơi mà khi tôi còn bé đã từng có lúc theo Ba tôi về sống nơi ông công tác ở Quân Khu IV, Cần Thơ vài năm trước 1972.

    Sẽ tiếp tục dịch các phần tiếp theo khi có đủ thời gian và quan trọng hơn - ở mức độ đón nhận của người đọc vì cũng muốn biết rằng mình đã không phí thời giờ làm một việc vô ích.

    Xin cám ơn

    Guo, người tài xế, đưa chiếc xe ngừng lại một cách êm thắm bên trên một khe núi cao: đến lúc làm một điếu thuốc. Và sau 7 giờ thót tim đi dọc những con đường ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp, cũng đã đến lúc những hành khách của anh kiểm soát lại các thứ họ đã ăn trước đó có còn nằm yên trong dạ dày hay không. Đốt thuốc, anh bước xuống xe, đội mũ và mặc cái áo khoác: bầu trời nắng đẹp của những ngày đầu hè vẫn lạnh lạnh và hết sức trong lành ở độ cao 3500 mét trên mực nước biển. Guo là một người lém lỉnh, nhỏ nhắn nhưng tròn trịa với cái trán hói, hàm răng nâu, và rất vui tính. Anh là một trường hợp ngoại lệ: là người gốc Thượng Hải phía bắc tỉnh Vân Nam, anh quyết định ở lại với cô vợ người địa phương thay vì trở về cái thành phố đang phát triển đến chóng mặt của mình.

    Như một dải lụa, giòng nước màu nâu chảy nhanh qua hẻm núi phía dưới chứa đầy tuyết tan. Với chỉ vài chiếc xe đi ngang qua, âm thanh vang vọng lấp đầy không gian. Xa xa, dãy núi Hoành Đoạn oằn xuống dưới lớp băng tuyết như bị sụm xuống dưới chính sức nặng của nó. Guo hồi tưởng về những tay tài xế đã “ôm cua” quá nhanh và tử nạn sau khi rơi xuống thung lũng bên dưới. Anh kể về những nhân công bị mất thăng bằng hoặc do dây an toàn bị hỏng trong lúc xây dựng một cây cầu gần Cizhong quê anh, độ 20 hoặc 30 cây số về phía nam. Rít một hơi thuốc dài, “Giòng sông này,” anh nói, “đã lấy đi biết bao nhiêu sinh mạng”.

    Nó cũng đã cưu mang biết bao nhiêu người hơn số sinh mạng mà nó cướp đi.

    Từ những giọt tuyết tan trên vùng Thanh Hải khô cằn, con sông lớn lên một cách nhanh chóng khi nó đi ngang qua Tây Tạng và Vân Nam. Rời Trung Hoa, con sông đổi tên từ Lan Thương sang Mekong, nó đâm xuống xuyên qua một vùng phong cảnh càng lúc càng dày đặc như rừng. Nở rộng ra bởi các nhánh sông suối hợp lưu của rừng nhiệt đới, nó làm nên biên giới giữa Miến Điện – Lào và phần lớn biên giới của Lào – Thái Lan. Nó cắt Campuchia ra làm hai, và rồi tách ra thành nhiều nhánh ở Tây Nam Bộ của Việt Nam, một vùng đồng bằng phì nhiêu, bảo bọc, hoàn toàn đối nghịch với cái hiểm trở, khắc khổ ở đầu nguồn nơi nó bắt đầu.

    Khu vực sông Mekong là vựa lúa của châu Á: năm 2014 vùng hạ lưu sông Mekong (Miến Điện, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam) sản xuất ra trên 100 triệu tấn gạo, khoảng chừng 15% tổng sản lượng thế giới. Đất đai màu mỡ của khu vực này phụ thuộc vào phù sa giàu dinh dưỡng mà giòng Mekong mang về hạ lưu, chủ yếu là trong mùa mưa từ tháng Sáu đến tháng Mười. Hơn một nửa phù sa ở miền trung Campuchia đến từ Trung Quốc. Giòng sông và các chất dinh dưỡng nó mang lại còn hổ trợ cho ngành ngư nghiệp nội địa lớn nhất thế giới, chiếm một phần tư tổng sản lượng cá nước ngọt toàn cầu, góp phần nuôi sống hàng chục triệu con người.

    Khu vực này tự hào có một nguồn sinh vật học đa dạng đáng kể, chỉ những lưu vực rộng lớn của sông Congo và sông Amazon là có thể so sánh tương đương hoặc đa dạng hơn. Có trên 20000 loại thực vật và gần 2500 chủng loại động vật; Cá heo nước ngọt và cá da trơn khổng lồ; những con nhện mà bề ngang lên đến 30cm, và, trong một hang đá vôi ở Thái Lan người ta phát hiện một loại rết màu hồng rực có thể tiết ra chất cực độc Cyanide.

    Sự đa dạng của con người ở khu vực này cũng nổi bật như vậy: Các nhà sư Tây Tạng cầu nguyện; thương nhân Miến Điện mua bán trao đổi hàng hoá; ngư dân Campuchia quăng lưới; nông dân Thái thu hoạch mùa màng; những vùng chợ nổi ở Việt Nam.

    Lịch sử cũng giàu có như lớp đất màu mỡ của nó. Tượng Đức Phật mỉm cười trong tư thế nghỉ ngơi ở thành phố Luang Prabang phía bắc Lào. Đền Angkor Wat trên hồ Tonle Sap được nuôi dưỡng bởi sông Mekong, là một trong những thành phố lớn nhất thế giới thời tiền công nghiệp. Đế chế Khmer - những người đã xây Angkor Wat - thống trị Đông Nam Á trong một giai đoạn dài hơn cả thời gian người Âu có mặt ở châu Mỹ.

    Từ những ngày còn là thuộc địa Pháp, sông Mekong là một giòng sông êm ả.

    Thế nhưng những thay đổi vốn làm đảo lộn cuộc sống khắp nơi ở châu Á đang lan rộng đến vùng thế giới chủ yếu là thôn quê này. Xe bán tải đang thay thế cho xe bò kéo, những tiệm Karaoke nằm rải rác dọc những con đường hai làn xe vắng vẻ, ngư dân có thể coi lại những bộ phim truyền hình nhiều tập khi đêm xuống. Người ta bây giờ giàu có hơn và sống lâu hơn.

    Và lúc mà thế giới hiện đại lan tỏa đến đây, nó đồng thời cũng tìm cách để lấy đi một thứ gì đó.

    Các quốc gia nhìn vào nguồn tài nguyên mới từ sông Mekong: thứ mà họ nhìn thấy chỉ đơn giản là cái giòng chảy của nó mà chẳng là sự đỡ nâng mà nó mang lại cho hệ thống sinh thái phong phú của đời sống.

    Các đập thủy điện đã và đang dự tính được xây trên giòng Mekong lên đến một mức độ lớn nhất từ trước tới nay trong những can thiệp của con người vào dòng chảy của một con sông.

    Trong khi các nguồn năng lượng của nó được chuyển hướng xuống vào những đường dẫn bằng dây đồng để cung cấp điện năng cho những thành phố xa xôi, chính bản thân giòng sông lại bị giam hãm đằng sau môt loạt những bức tường xi măng kiên cố.

    Ngư nghiệp, nông nghiệp và sự đa dạng sinh học của nó sẽ bị ảnh hưởng; bao nhiêu cuộc đời sinh sống trên đôi bờ của nó sẽ bị thay hình đổi dạng, những người mà tình cảm của họ chẳng nhận được mấy quan tâm từ những nhà lãnh đạo trên cao.

    Khi dạy các đệ tử của mình rằng Thay Đổi là một hằng số bất biến thật sự duy nhất, nhà triết học Heractilus nói với họ: không ai tắm hai lần trong cùng một giòng sông. Ở lần tắm thứ hai, cả người lẫn giòng sông đều không còn như trước nữa.

    Trong không gian và thời gian, từ những hẻm núi hẹp cho đến biển mặn bao la, từ những đế chế vĩ đại đến người nông dân nghèo khó, con sông dưới chân anh Guo chứa đựng những thay đổi nhiều hơn cả.

    Những phát triển mới, vì vậy, đem đến cái cảm giác sâu xa, nặng nề hơn. Dòng chảy mang ý nghĩa đổi thay, nhưng cũng đồng thời đem lại bản sắc bởi vì nó thể hiện tính liên tục.

    Khi con sông ngừng chảy, những bản sắc quý giá có nguy cơ bị mất đi mãi mãi.

    The Mekong, Phần 1