Công lý thuộc về mọi người

    Công lý thuộc về mọi người

    Bài viết phản biện ý kiến tin rằng suy đoán vô tội là nguyên tắc chỉ phù hợp với nước ngoài chứ không phải ở Việt Nam. Bài viết chứng tỏ điều ngược lại: nguyên tắc này phù hợp mọi nơi vì nó liên quan tới bản chất người

    Trước tội ác, nhất là tội ác nghiêm trọng, ai cũng phát sinh nhu cầu công lý - tìm ra kẻ thủ ác để trừng phạt. Tuy nhiên, trên con đường tìm công lý đó thường xuất hiện một thế lưỡng nan (dilemma) liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội gây ảnh hưởng đến việc lựa chọn thái độ của mỗi cá nhân.

    (1) Nếu KHÔNG áp dụng nguyên tắc này

    Lợi: Gần như với tội ác nào cũng tìm ra được một ai đó để trừng phạt, khiến công chúng có cảm giác công lý đã được thực thi nhanh chóng, ngay sau khi tội ác diễn ra.

    Hại: Khả năng oan sai cao.

    Và đồng nghĩa là hung thủ đích thực thoát tội, nghĩa là công lý bị nhạo báng tới hai lần - lần 1 với người bị oan sai, lần 2 bởi kẻ đã thoát tội

    (2) Nếu CÓ áp dụng nguyên tắc này:

    Lợi: Hạn chế được oan sai.

    Hại: Mất nhiều thời gian để khép tội ai đó cho một tội ác. Trong nhiều trường hợp không thể tìm ra kẻ thủ ác hoặc kết án họ. Công chúng có cảm giác công lý bị trì hoãn hoặc lãng quên.

    Thế chọn phương án nào? Mỗi cá nhân sẽ có lựa chọn khác nhau, tùy thuộc vào vị trí của họ.

    Nếu một người ở ngoài cuộc - biết tội ác chỉ qua báo chí và đang rất phẫn nộ - rất có thể sẽ chọn phương án (1) - Không áp dụng - vì mong muốn công lý sớm được thực thi.

    Nếu một người ở trong cuộc với vai nạn nhân, họ cũng có thể nghiêng về phương (1) - Không áp dụng - vì lý do tương tự.

    Nhưng nếu một người ở trong cuộc với vai người bị tình nghi, gần như chắc chắn họ chọn phương án (2) - Có áp dụng - để hạn chế việc họ bị oan sai.

    Hoặc nếu người đó cũng ngoài cuộc, nhưng có mối quan hệ gia đình, bạn bè với người bị tình nghi, họ sẽ nghiêng về phương án (2) - Có áp dụng - để thân nhân họ, dù có thực sự gây tội ác hay không, cũng được đảm bảo đầy đủ quyền lợi.

    Vì đa số chúng ta là người ngoài cuộc của một tội ác, và cũng hiếm khi có mối quan hệ với nghi phạm, chúng ta, dưới nhiều cách thể hiện khác nhau, có xu hướng chọn phương án (1) - Không áp dụng - vì nhu cầu công lý của chúng ta LỚN HƠN lo ngại ai đó có thể bị oan sai. Vì sao lớn hơn? - Vì "ai đó" thì không phải là "người thân của ta", cũng đương nhiên không phải là "ta".

    Chuyện nhiều người trên mạng 'kết án' vô căn cứ thầy giáo Đông trong nghi án bé 7 tuổi bị xâm hại ở trường Lương Thế Vinh, Thủ Đức có thể đã diễn ra trong một quá trình tâm lý như thế.

    Nếu ai đó hỏi bạn có nên áp dụng suy đoán vô tội với Đông không, bạn có thể dễ dàng đáp là 'Không', vì bạn chẳng quen anh ấy và đương nhiên không phải là anh ấy. Nhưng nếu Đông là anh trai của bạn, hoặc bỗng trong trường hợp éo le nào đó, không phải Đông, mà chính là bạn đang bị tình nghi ấu dâm, thì bạn có muốn được áp dụng nguyên tắc này không. Hẳn là có, đúng không?

    Vậy phải chăng công lý không thể thuộc về số đông? Vẫn có thể, nhưng cần điều kiện. Điều kiện đó John Rawls bảo là 'bức màn vô minh': nếu không ai biết gì về nhân thân của mình trước khi đưa ra quyết định thì tất cả sẽ đồng ý với nhau về một số điều - những điều đó sẽ là công lý.

    Một ví dụ mình nghĩ ra sau đây có thể minh họa phương pháp của Rawls ở trên, cho vấn đề suy đoán vô tội trong vụ ấu dâm gần đây.

    Thử tượng tượng bạn chỉ đang là một bào thai, chưa biết sinh ra ở đâu, lớn lên như thế nào và sẽ trở thành ai. Thượng đế sẽ hỏi bạn muốn sinh ra trong xã hội CÓ hay KHÔNG tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội. Trả lời xong Ngài sẽ cho bạn biết lớn lên bạn sẽ thành ai.

    Có phải nhất loạt các bạn sẽ chọn CÓ, đúng không ạ? Tôi cũng như các bạn thôi, bởi lẽ chúng ta đều sợ rằng, chẳng may chọn KHÔNG mà Ngài cho chúng ta sinh ra làm anh Đông ở Việt Nam, thì ngay cả khi chúng ta bị oan, lấy gì bảo vệ chúng ta trước một công chúng đang cực kỳ giận dữ và một hệ thống tư pháp chỉ muốn buộc tội càng nhanh càng tốt?

    Suy đoán vô tội thành công lý theo cách như vậy đó.